Ask question

Ask Questions and Get Answers from Our Community

Answer

Answer Questions and Become an Expert on Your Topic

Contact Staff

Our Experts are Ready to Answer your Questions

Marcus Fernaldi GIDEON

  • Xem Xem: 322
  • Cập nhật lần cuối Cập nhật lần cuối:
  • Marcus Fernaldi GIDEON
    Quốc tịch:Indonexia
    RANK : 1
    TOUR RANK : 31
    26394
    Player
    Debut
    Bắt đầu thi đấu
    2004
    Record (Kỷ lục)
    Win (Thắng)-Loss (Thua)
    8 - 1 (MS)
    343 - 106 (MD)
    22 - 26 (MX)
    Biography
    Tiểu Sử
    Age
    Tuổi
    Birthplace
    Nơi Sinh
    Jakarta, Indonesia
    Birthday
    Sinh nhật
    09/03/1991
    Blood
    Nhóm máu
    Height
    Chiều cao
    1.68m
    Weight
    Cân Nặng
    Facebook
    Click
    Family: Grandfather /
    Grandmother / ... (deceased)
    Father / ... (deceased)
    Mother / ... (deceased)
    Wife /
    Aunt / ... (deceased)
    Uncle / ...
    Sister / ...
    Teacher / Herry Iman Pierngadi & Aryono Miranat
    Fighting Style
    Phong cách thi đấu
    Type: Man Double (Đôi Nam)
    Plays
    Chơi thuận tay 1

    RIGHT HANDED
    LEFT HANDED
    Racket
    Vợt sử dụng

    Marcus Fernaldi Gideon là vận động viên cầu lông chuyên nghiệp người Indonesia hiện được Liên đoàn cầu lông thế giới xếp hạng số 1 thế giới ở nội dung đôi nam. Anh ấy chơi cho PB Jaya Raya và đã gia nhập câu lạc bộ từ tháng 6 năm 2018.

    Fernaldi Gideon Markus giành vô địch All England Open Super Series Premier 2017 với người đồng đội hiện tại Sukamuljo Kevin Sanjaya. Fernaldi Gideon Markus và Sukamuljo được công nhận là những cầu thủ xuất sắc nhất, và được trao danh hiệu Cầu thủ nam xuất sắc nhất năm của BWF trong hai năm liên tiếp sau khi thu thập được bảy giải Siêu hạng danh hiệu trong năm 2017 và tám danh hiệu World Tour vào năm 2018.

    Gideon và Sukamuljo thường được gọi là "The Minions" vì chiều cao của họ dưới mức trung bình so những người chơi cầu lông khác và họ cũng được biết đến với lối chơi nhanh nhẹn như thể đang tung tăng giống như những chú Minion trong bộ phim Despicable Me vậy, thường xuyên nhảy lên nhảy xuống.

    Nghề nghiệp​ (top)

    Gideon bắt đầu sự nghiệp cầu lông tại câu lạc bộ Tangkas Jakarta khi mới 9 tuổi. Năm 13 tuổi, anh bắt đầu thi đấu chuyên nghiệp, đồng thời nhận học bổng tại Singapore. Bốn tháng sau ở Singapore, anh trở lại Indonesia vì bệnh tật, và quyết định không tiếp tục học ở nước ngoài. Anh lại được huấn luyện bởi cha mình, như một người chơi đơn và đôi. [7] Gideon đã giành được danh hiệu quốc tế đầu tiên ở nội dung đơn nam tại sự kiện Victoria International a Future Series. [8]

    Gideon được chọn vào trung tâm huấn luyện quốc gia ở Cipayung, trong đội tuyển đôi nam vào năm 2010. Hợp tác với Agripina Prima Rahmanto, anh đã vô địch các giải đấu Quốc tế Singapore 2011 và Iran 2012, [9] và cũng kết thúc với tư cách á quân vào năm 2012 Việt Nam và Quốc tế Osaka. Cảm thấy thất vọng với quyết định của PBSI trong việc cử các cầu thủ tham dự các giải đấu quốc tế, Gideon quyết định rời trung tâm huấn luyện quốc gia vào năm 2013. [7] [9]

    Gideon sau đó trở lại sân đấu với tư cách là một tay vợt độc lập kết hợp với người từng đoạt huy chương vàng Bắc Kinh 2008, Markis Kido. Bộ đôi này đã lọt vào bán kết tại Indonesia Masters Grand Prix Gold 2013 để thua các tuyển thủ quốc gia Ronald Alexander và Selvanus Geh trong các trận đấu liên tiếp. [10] Anh ấy đã giành được danh hiệu Superseries đầu tiên của mình tại Pháp mở rộng 2013 với Kido, chơi từ vòng loại và đánh bại các cặp hạt giống trong hành trình của họ để đạt đến bục danh dự đôi nam. [11] Gideon và Kido, vào đến bán kết tại All England Open 2014, và sau đó giành danh hiệu thứ hai tại Indonesia Masters 2014 khi đánh bại Selvanus Geh và Kevin Sanjaya SUKAMULJO trong trận chung kết bằng các trò chơi cao su. [7] [12]

    Chứng kiến thành tích của mình với Markis Kido, Gideon được PBSI mời trở lại đội tuyển quốc gia. [9] Đầu năm 2015, anh được đá cặp với Kevin Sanjaya SUKAMULJO, kết thúc nhiều năm bằng việc chiếm vị trí trong 20 bảng xếp hạng BWF thế giới, giành được một danh hiệu tại Trung Hoa Đài Bắc Masters. [13] Tại giải Trung Hoa Đài Bắc mở rộng vào tháng 7, Gideon và Sukamuljo đã lọt vào trận chung kết bằng cách đánh bại các nhà vô địch thế giới sau đó là Mohammad Ahsan và Hendra SETIAWAN, [14] nhưng họ không giành được danh hiệu, thua trận chung kết một cách thuần thục trước Fu Haifeng và Zhang Nan. [15] Sau giải đấu này, người hâm mộ cầu lông Indonesia gọi họ là "Minions" vì chiều cao dưới mức trung bình và phong cách chơi nhanh nhẹn, hoạt động nhanh nhẹn, bật nhảy giống hệt những chú Minion trong phim Despicable Me. [16] [17] Cựu vận động viên cầu lông hiện đang là bình luận viên của BWF, Gillian Clark, cũng nhấn mạnh rằng lối chơi nhanh do Gideon và Sukamuljo thể hiện đã đưa nội dung đôi nam lên một tầm cao mới và khiến các trận đấu trở nên hấp dẫn. [18] Gideon cũng tham gia Đại hội thể thao Đông Nam Á, giành huy chương vàng nội dung đồng đội nam và huy chương bạc nội dung đôi nam. [19]

    Gideon và Sukamuljo bắt đầu chuyến lưu diễn năm 2016 bằng chiến thắng tại Malaysia Masters, [20] thành tích của họ tiếp tục được cải thiện và họ đã giành được danh hiệu Superseries ở Ấn Độ và Úc, tiếp theo là danh hiệu Superseries Premier ở Trung Quốc. [21] Vào cuối năm 2016, anh và Sukamuljo đã lọt vào top 10 bảng xếp hạng thế giới, và đủ điều kiện để tranh tài tại Vòng chung kết BWF Superseries được tổ chức tại Dubai. Bộ đôi này đã không thể tiến đến vòng loại trực tiếp sau khi đứng ở vị trí thứ ba ở vòng bảng, sau khi thắng một trận đấu trước những người đồng hương Angga Pratama và Ricky Karanda Suwardi, và để thua hai trận trước cặp Đan Mạch và Nhật Bản. [22]

    Năm 2019, Gideon và Sukamuljo được đề cử cho giải Cầu thủ nam xuất sắc nhất, nhưng không thể giữ được giải thưởng sau khi bị đánh bại bởi Kento Momota. [23]

    Đời tư​ (top)

    Gideon là con trai của cựu tuyển thủ cầu lông quốc gia, Kurniahu. [24] Anh kết hôn với một bác sĩ đa khoa, Agnes Amelinda Mulyadi vào ngày 14 tháng 4 năm 2018. [25] Con trai đầu lòng của anh ấy, Marcus Fernaldi Gideon Jr, chào đời vào tháng 1 năm 2019. [26]

    Thành tích huy chương​ (top)

    Sudirman Cup
    16px-Bronze_medal_icon_%28B_initial%29.svg.png
    2015 DongguanMixed team
    16px-Bronze_medal_icon_%28B_initial%29.svg.png
    2019 NanningMixed team
    Thomas Cup
    16px-Silver_medal_icon_%28S_initial%29.svg.png
    2016 KunshanMen's team
    16px-Bronze_medal_icon_%28B_initial%29.svg.png
    2018 BangkokMen's team
    Asian Games
    16px-Gold_medal_icon_%28G_initial%29.svg.png
    2018 Jakarta–PalembangMen's doubles
    16px-Silver_medal_icon_%28S_initial%29.svg.png
    2018 Jakarta–PalembangMen's team
    Asian Championships
    16px-Silver_medal_icon_%28S_initial%29.svg.png
    2019 WuhanMen's doubles
    Asia Team Championships
    16px-Gold_medal_icon_%28G_initial%29.svg.png
    2018 Alor SetarMen's team
    16px-Gold_medal_icon_%28G_initial%29.svg.png
    2020 ManilaMen's team
    Southeast Asian Games
    16px-Gold_medal_icon_%28G_initial%29.svg.png
    2015 SingaporeMen's team
    16px-Silver_medal_icon_%28S_initial%29.svg.png
    2015 SingaporeMen's doubles
Bên trên Bottom